Tích hợp các thói quen trí tuệ trong lớp học 

Tích hợp các thói quen trí tuệ trong lớp học 

BBT: Sáng tạo và cải tiến các phương pháp dạy học chưa bao giờ có một giới hạn nhất định. Bên cạnh đó, việc đổi mới góc nhìn trong giáo dục là một điều rất quan trọng thời nay, khi mà  hầu hết các phương pháp giáo dục cũ không còn mang lại hiểu quả học tập cao. Cùng tác giả Terry Heick và FLC tìm hiểu về 16 cách kết hợp và thay đổi góc nhìn trong phướng pháp dạy học nhé!

Chúng ta sử dụng các thói quen trí tuệ trong lớp học ra sao?

Trong các môi trường học tập dựa trên kết quả  chúng ta thấy có 3 yếu tố tác động: 1) mục tiêu học tập   được tạo ra từ các tiêu chí nhất định; (2) một số loại hướng dẫn được đề xuất và 3) kết quả học tập được đánh giá. Các đánh giá  này cung cấp dữ liệu cho việc sửa đổi lại cách giảng dạy được hoạch định thêm.

Nhưng các thói quen trí tuệ (thường được dự đoán trước) đưa đến thành công hay thất bại  trong việc nắm vững các tiêu chuẩn nhất định sẽ bị lạc mất trong trình tự  đơn giản này. Thật ra, không phải là các tiêu chuẩn  hay các đánh giá  mà chính từ  các thói quen cá nhân này mà thành công hay thất bại thực sự bắt đầu.   Dưới đây là 16 thói quen trí tuệ mỗi loại đều có lời khuyên, chiến lược hay nguồn lực để hiểu và bắt đầu thực hiện trong lơp học của bạn.

Các thói quen này không mới lạ chút nào và các công trình có ý nghĩa đã được thực hiện trong các lãnh vực thói quen tư duy này. Tuy nhiên trong môi trường học tập  của thế kỷ 21 —  một môi trường tràn ngập thông tin, kích thích  và kết nối —  có thể tìm thấy một bối cảnh mới cho việc ứng dụng và có một sự khẩn thiết mới cho việc tích hợp các thói quen này. 

 Các thói quen  trí tuệ (của Art Costa and Bena Kallick)  không đơn giản thể hiện sự thực hành rời rạc và thêm vào những gì  đã từng  làm  mà đúng hơn là một tư duy  mới về cách học tập. 

16 chiến lược tích hợp các thói quen trí tuệ trong lớp học

  1. Kiên trì 

Yêu cầu học sinh xác định các đặc điểm của tính kiên trì được thể hiện bởi các cá nhân trong các sự kiện nổi tiếng, hoặc tưởng tượng điều gì có thể xảy ra nếu sự kiên trì ít nhiều được thể hiện trong một tình huống nhất định.

  1. Chế ngự tính vội vàng thiếu suy nghĩ
  Loại bỏ ngữ pháp khỏi bài giảng

Làm mẫu việc sử dụng tính kiên nhẫn trong lớp học bao gồm thời gian chờ đợi trong khi thảo luận hay các câu hữu ích phản ảnh sự lựa chọn có chủ đích (chẳng hạn như “sau khi xem xét tất cả các giải pháp khả thi…”

  1. Lắng nghe người khác với sự thấu hiểu và cảm thông

Xác định các phương pháp hỗ trợ kỹ năng nghe trong hội thoại  để học sinh bắt đầu nhận ra các lỗi thông thường xảy ra trong giao tiếp. Các lỗi này bao gồm so sánh, phán đoán, xoa dịu  hay cho lời khuyên thay vì thật sự lắng nghe và thấu hiểu một thông điệp.

  1. Tư duy linh hoạt

Dùng các bài tập RAFT (vai trò,  đối tượng  , hình thức, chủ đề) để học sinh buộc phải xem xét một tình huống,  một bức thư, một bài diễn văn, một bài thơ từ một quan điểm khác với quan điểm của mình hoặc của diễn giả đầu tiên.

  1. Tư duy về tư duy (siêu nhận thức)

Yêu cầu học sinh phác hoạ  quá trình tư duy của chính mình. Đầu tiên  thể thực hiện một cách đơn giản  như vẽ sơ đồ mối quan hệ giữa  mong muốn và nhu cầu , giữa một cử chỉ và nhu cầu làm một cử chỉ . Rồi  sau đó làm cho phức tạp hơn như  phác hoạ nhân vật trong sách hay các tư tưởng gia trong lịch sử bằng cách nào đã có thể đi đến điểm bắt đầu và kết thúc trong suy nghĩ.

  1. Cố gắng đạt sự chuẩn xác

Dùng chiến lược “ Ba người trước tôi”, yêu cầu các  mỗi bài tập đều được  ít nhất 3 người  kiểm lại trước khi đem nộp.

  1. Chất vấn và đặt vấn đề

Tạo một khu vực ‘bãi đậu xe’ trong lớp học – chứa đầy ghi chú sau đó – nơi sinh viên có thể đăng các câu hỏi có thể không phù hợp với tốc độ hoặc định dạng của một lớp học nhất định. Sau đó, đánh dấu các câu hỏi hay theo định kỳ, hoặc sử dụng chúng làm điểm khởi đầu để thảo luận hoặc thậm chí  làm giáo án.

  1. Ứng dụng kiến thức đã học vào tình huống mới

Sử dụng các câu hỏi như “Ban nhớ gì về…?” “Bạn đã từng thấy gì giống như thế này chưa?” hay “Hãy nói những gì bạn biết về …” Dù xem đó là cách kích hoạt các lược đồ, hay kiến thức có trước, hoặc đơn giản chỉ để học sinh cảm thấy thoải mái hơn và phù hợp với những gì đã biết thì cũng đều là động lực rất lớn cho quá trình học.

  1. Tư duy và giao tiếp rõ ràng và chuẩn xác
  Chỉ Số IQ trung bình của người bình thường là bao nhiêu?

Nhắc nhở học sinh tránh dùng các thuật ngữ mơ hồ, trừu tượng – và thiếu chính xác như luôn luôn, không bao giờ, tất cả, mọi người,  các giáo viên, những người nổi tiếng, công nghệ,  người ta chúng ta, nên phải. Dán  những từ hay cụm từ này lên tường để sinh viên  nhớ  — và tránh sử dụng.  Và hy vọng rằng họ biết vì sao nên tránh dùng các từ này.

  1. Thu thập dữ liệu thông qua tất cả  giác quan.

Vui vẻ cho phép học sinh ‘trích dẫn’ các nguồn từ dữ liệu cảm quan ngoài các nguồn văn bản truyền thống. Ngoài ra, hãy xem xét việc yêu cầu sử dụng các dữ liệu đó  làm đề mục đánh giá chính thức.

  1. Sáng tạo, tưởng tượng và đổi mới 

Liên tục cung cấp các nguồn tư liệu khuyến khích tư duy, thiết kế , nghệ thuật hay đa phương tiện  thông qua các gợi ý cho kỹ năng viết, các vấn đề thảo luận, hay  đơn giản chỉ là một hoạt động hàng ngày để  kết thúc lớp học.  Hoạt động  này không những giúp  hình thành sự sáng tạo mà còn  nâng cao chuyên môn, đồng thời có sẵn để sử dụng trên YouTube, Pinterest hay Instagram.

  1. Đáp ứng bằng sự thán phục và kinh ngạc

Không chỉ cho học sinh cơ hội lựa chọn  đề tài, chủ đề,  hình thức hay lộ trình học tập mà còn phải nhấn mạnh điều này. Từ chối  tiếp tục giờ học trước khi học sinh đem niềm đam mê của chính họ vào trải nghiệm học tập.

   13.  Đón nhận  rủi ro một cách có trách nhiệm 

Tạo ra một môi trường trong đó thất bại được phân tích chứ không bị trừng phạt.

   14. Tìm ra sự hài hước

Chỉ ra sự khôi hài khi nó không thể hiện rõ ràng, nhất là trong các câu chuyện hay thí dụ từ chính cuộc sống của bạn. Điều này  thiết lập   tính tương đối của sự vật giúp  việc phân tích chính xác hơn.   Tính hài hước làm mọi việc trở nên dễ chịu hơn.

  1. Tư duy tương thuộc 

Việc sử dụng các phương tiện truyền thông mạng xã hội và kỹ thuật số ít nhất  tạo ra nhu cầu phụ thuộc lẫn nhau ngay từ đầu. Tư duy càng được công bố và chia sẻ thì càng có nhiều cơ hội cho sự phụ thuộc lẫn nhau về mặt nhận thức, mặc dù ngay cả khi các cơ hội không đảm bảo rằng điều đó sẽ xảy ra.

  1. Không ngừng học tập
  Công nghệ hiện đang là một phần của việc học dưới hình thức đọc và viết lách

Thỉnh thoảng nên quay lại các ý tưởng, bài viết và đề án cũ để xác lập các lĩnh vực cần phát triển, cải tiến hay sửa đổi. Điều này đặc biệt tự nhiên trong các lĩnh vực kỹ thuật số,  ở đó nội dung có tính linh hoạt —  được cập nhật, chia sẻ,  siêu liên kết, chọn lọc  định dạng lại  bằng  các thuật ngữ tương đối trực quan hơn rồi lại tiếp tục chia sẻ.  

Tôi biết rằng đây chỉ là phần nổi của tảng băng chìm và có nhiều cách tiếp cận có thể thực hiện. Thói quen nào trong số này cần được hỗ trợ nhiều nhất cho học sinh? Làm cách nào để  tích hợp những thói quen này vào lớp học của bạn?

Tác giả: Terry Heick

Nguồn: Integrating The Habits Of Mind In The Classroom

Biên dịch: Trúc Thông.

 

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *