12 rào cản đối với việc đổi mới giáo dục

12 rào cản đối với việc đổi mới giáo dục

Đổi mới không thể tự xảy ra. Nói đúng hơn, đổi mới sẽ tự xảy ra nhưng cần phải có chất xúc tác phù hợp.

Đôi khi chất xúc tác này được gọi tên là “bầu không khí học đường”, nhưng đó chỉ là một phần nhỏ trong công thức đổi mới mà thôi. Đổi mới bắt đầu từ đâu là một đề tài thông dụng gần đây khi các đề án mới ngày càng xuất hiện và gây ảnh hưởng nhiều hơn, nhờ vào khả năng tiếp cận thông qua kỹ thuật số. Tuy nhiên, ở đây chúng ta sẽ chú trọng vào đổi mới giáo dục công lập.

Hệ thống giáo dục phổ thông và mầm non có rất nhiều rào cản làm chậm sự đổi mới . Sau đây là 12 phỏng đoán về các “nghi phạm” gây cản trở.

Xin lưu ý: không nhất thiết phải xem những yếu tố nhắc đến sau đây là “ tồi tệ”, cũng như không thể nói đầu kim nhọn, lò lửa nóng hay nọc rắn độc luôn là “xấu xa”. Chúng vốn là như vậy. Đổi mới không phải lúc nào cũng tốt như mong muốn, và rất có thể là chúng ta còn phải cám ơn rằng mình đã may mắn vì có 12 bộ giảm tốc cho sự thay đổi.

Vâng, biết đâu là như thế.

12. Phụ huynh bận rộn

Những phụ huynh bận rộn – một thực tế không may từ các gia đình cha mẹ đơn thân, đến các gia đình có hai thu nhập, và những gia đình ở khoảng giữa — sẽ ít khi có thời gian để ủng hộ việc đổi mới học tập nếu có.

Đa số phụ huynh quen với một kiểu giáo dục — là cách giáo dục thời họ còn đi học. Các kiểu học mới khiến các bậc cha mẹ bận rộn cảm thấy bối rối, vì thế họ khó lòng ủng hộ, hoặc tệ hơn nữa, cách học mới khó áp dụng được với các học sinh thuộc nhóm “cá biệt” vốn  đã không dễ tiếp cận với cách học theo trường lớp hiện nay.  Nếu cha mẹ không chấp nhận thì trẻ con cũng sẽ từ chối. Điều này có thể điều chỉnh bằng nhiều cách, nhưng nếu cả phụ huynh và giáo viên đều bận rộn không thể trao đổi thống nhất với nhau thì việc điều chỉnh khó có thể xảy ra.

 11. Các hội đồng giáo dục tại cơ sở 

Các hội đồng giáo dục tại cơ sở đều là những người tử tế, và các hội đồng giáo dục cấp địa phương. Các hội đồng này gồm giáo viên và đại diện phụ huynh, những người có quyền bỏ phiếu thông qua các chính sách của trường, chọn chương trình học, tuyển giáo viên mới v.v…  Những vấn đề thực sự quan trọng.

Nhưng các buổi họp lại có thể không đủ người tham dự. Đại diện các bên liên quan thường không đủ thành phần (vì không thể quá đông), đồng thời do thiếu thời gian và năng lượng cần thiết để phục vụ, những nhà giáo dục có sáng kiến nhiều nhất lại thường quá bận – hoặc tự cho là mình quá bận —  với việc thực hiện đổi mới nên không thể phục vụ các hội đồng này. Vấn đề rất đơn giản – nếu một số thành viên của hội đồng có quan điểm này còn những thành viên khác có quan điểm ngược lại thì việc đổi mới sẽ diễn ra rất chậm, thậm chí là không thể. Các cuộc họp ít người vào buổi tối trong đó những người tham gia ít có kinh nghiệm hoạt động trong trường học hẳn không phải là hoàn cảnh lý tưởng cho việc đổi mới.

10. Tài chánh

Trong khi tiền bạc và đổi mới thường được xem là có liên hệ mật thiết với nhau, đổi mới vẫn có thể xảy ra mà không có tiền. Vì vậy, trong danh sách này tài chính không nằm ở những vị trí đầu bảng. 

9. Phát triển chuyên môn theo kiểu “cỡi ngựa xem hoa” 

Các chuyên gia giáo dục là lợi thế cho quá trình đổi mới. Khả năng lãnh đạo tư tưởng, kiến thức trong những lĩnh vực chuyên biệt, và việc thường tập hợp thông qua các hội nghị, các phương tiện truyền thông xã hội và viết blog rõ ràng sẽ thúc đẩy đổi mới. 

Khi các chuyên gia/ nhà tư tưởng/ nhà hành động này được các nhà quản lý chú ý thì ý tưởng của họ  thường sẽ được đưa vào đâu đó  — sách, chương trình, v.v… — Trên thực tế,  họ còn được mời đích thân chia sẻ quan điểm với các nhà lãnh đạo, phát biểu tại các buổi họp và dự giờ. Các chuyên gia có thể đến nhiều lần trong năm và người ta mong rằng các giáo viên sẽ tạo ra được những kết quả bằng “hiện vật” thông qua việc áp dụng các ý tưởng lớn mà họ thu lượm được qua các buổi gặp gỡ với chuyên gia để áp dụng vào lớp học.

Vấn đề ở đây là đổi mới không phải là món quà tặng được ban cho các giáo viên, mà đó là những lời khuyên hoặc chiến lược. Các lời khuyên hay chiến lược tốt thường rất hữu ích và cần thiết; chúng đem lại ngày càng nhiều cơ hội cải tiến thể hiện qua điểm kiểm tra và mức độ tiến bộ hàng năm.

Nhưng việc cải thiện “từ trên xuống” không tạo điều kiện cho sự đổi mới từ dưới lên. Nếu các chuyên gia không chỉ đến nói chuyện mà áp dụng một chương trình kèm cặp về nhận thức hay một mô hình huấn luyện để hướng dẫn các nhà giáo qua một quá trình tư duy nhằm đem lại sự đổi mới và giúp họ thành công thì  chúng ta có được cả sự đổi mới, và quan trọng hơn, là sự nâng cao giáo viên.

8. Môi trường học đường và cộng đồng 

Nhiều trường phổ thông chỉ nói suông khái niệm đổi mới trong các phát biểu sứ mệnh trên các website, trong chương  trình phát triển chuyên môn và trong các buổi họp chuyên môn hoặc họp hội đồng quản trị, nhưng lại chùn bước khi đến lúc phải hành động để đổi mới. Ủng hộ một điều mà mọi người xem là thứ yếu (tức đổi mới) trong khi đang phải đương đầu với các áp lực, rõ ràng là các chương trình với mục tiêu đầy tham vọng, các tiêu chuẩn từ bên ngoài như các môn cốt lõi (Common Core), phát triển khả năng biết đọc biết viết, kỹ năng công nghệ, hướng nghiệp vv phải là  những lựa chọn ưu tiên.

Trong khi giáo dục kêu gọi đổi mới, những phản biện chống lại đổi mới thường chuyển sang sử dụng lối tấn công ngụy biện rơm thường gặp.

Luận điểm thường dùng: Nếu thay đổi như vậy thì làm sao có thể biết chắc rằng thầy cô dạy đúng chuẩn mực và học trò có thể tiếp thu?

Các hình thức học tập khác nhau đòi hỏi phải có những dữ liệu riêng biệt và cơ sở hạ tầng phục vụ việc giám sát mà hiện nay đang thiếu.

Luận điểm thường dùng: Làm sao có thể chắc chắn điều gì đang xảy ra trong mỗi trường hay mỗi lớp học?

Đồng nhất việc giảng dạy trong các lớp học, các trường, khu vực và tiểu bang  tạo ra một vẻ bề ngoài đồng bộ, sự thoải mái giả tạo và dập tắt ý định đổi mới bất cứ nơi nào nó nảy sinh.

Luận điểm thường dùng: Làm cách nào khuyến khích giáo viên  chia sẻ, hợp tác và cùng làm việc nếu mọi người đều bận rộn làm theo ý riêng của mình?

Đây là điều nguỵ biện lớn nhất vì nó so sánh việc đổi mới với tình trạng hỗn loạn mà các nhà làm chính sách luôn lo ngại.

Vì vậy, do lo sợ sẽ phá vỡ hệ thống bởi những gián đoạn gây ra trong quá trình đổi mới, việc tuân thủ các chiến lược “xuất phát từ nghiên cứu”, kỳ vọng của địa phương và các chính sách đã ban hành sẽ được xem là quan trọng hơn tất cả mọi thứ khác. Trong hoàn cảnh như vậy, đổi mới rất khó có thể xảy ra, và nếu có thì thường là do một giáo viên xuất sắc hoặc một nhà quản lý tận tâm với nhận thức rằng cần phải có những thay đổi, cho dù với bất cứ giá nào.

7. Chính sách kém

  Học từ xa có là giải pháp cho thời đại internet?

Chính sách là hậu quả tất nhiên của việc cố gắng quản lý một điều vốn không thể quản lý. Những vấn đề thuộc về chính quyền, các doanh nghiệp lớn, các tổ chức không thể trao quyền ra quyết định cho các cá nhân đối với những việc cần sự quan tâm đặc biệt — hay nói cách khác là suy nghĩ cẩn trọng cần thiết để giải quyết những vấn đề quan trọng. Vì vậy các chính sách được áp dụng để có thể kiểm tra giám sát các chương trình học, hội thảo, việc phát triển chuyên môn, v.v… để bảo đảm rằng mọi người đều đồng ý.

Phản ứng tức thời có thể là “Suy nghĩ cẩn thận mỗi ngày cho khoảng 800 trẻ ở  tuổi vị thành niên là điều không thể” và một người có lý trí sẽ trả lời “Đúng thế!” 

Chính sách – ít nhất là cách mà chúng được dùng ngày nay – chỉ cần thiết khi nó là kết quả của một hệ thống quá lớn hay đã công nghiệp hoá quá nhiều đến nỗi việc cá nhân hoá trở nên không thể. Điều này có thể là tốt khi đánh thuế, chế tạo xe hơi hay thực thi pháp luật, nhưng khi phải nuôi dưỡng trí tuệ trẻ em, và đối với những người chịu trách nhiệm với việc chăm sóc trí tuệ  của chúng, thì chính sách  thất bại thảm hại. Tệ hơn, chúng ta có khuynh hướng phản ứng bằng cách “cải tiến chính sách ” hay đề ra chính sách mới thay vì xem xét lại các giới hạn, quy mô, và cả khái niệm hợp tác nữa.  Chúng ta làm ra chính sách để kiểm soát chính sách.

Còn đổi mới? Chính sách không ưa sự đổi mới vì chính sách không được xây dựng để tư duy nhanh, và vì thế chúng làm cho giáo viên bất hoà với các chuyên gia giáo dục và nhân viên — là những người luôn nghiêm túc tuân thủ chính sách — khiến họ trở thành những người làm việc riêng biệt, không cùng nhóm với các giáo viên

6. Các buổi họp

Ở một mức độ nào đó, các buổi họp là cần thiết nhưng với rất nhiều công cụ kỹ thuật số và các diễn đàn truyền thông xã hội hiện nay,  phần lớn những thông tin trao đổi ở các buổi họp đã tồn tại sẵn ở những nơi khác, có thể được tập hợp để chia sẻ rộng rãi, nhập vào hệ thống dữ liệu và tham khảo sau này. Vấn đề là các buổi họp vẫn là yêu cầu bắt buộc ở cấp độ “học khu” (school district),  theo quy định một số giờ cụ thể cho  mỗi tuần hay mỗi niên học, với hình ảnh các giáo viên cộng tác ngồi cùng nhau trong thư viện hay phòng họp với mục đích làm cho giáo dục trở nên tốt đẹp hơn sau mỗi lần họp.

Trên thực tế, các giáo viên vẫn luôn hợp tác, tìm kiếm thông tin cần biết và chia sẻ các ý tưởng hoặc đồng thuận với nhau dù có hay không có các buổi họp này. Đổi mới không đến với những giáo viên thụ động, chỉ quan tâm bàn bạc về các vấn đề hậu cần khi sử dụng xe buýt hay việc sử dụng phòng vi tính để làm bài kiểm tra. Nếu các diễn đàn trên Internet cũng như mạng xã hội có thể được dùng để giảm bớt thời gian và tần suất họp hành, các nhà giáo sẽ có nhiều thời gian hơn để cho trí óc thảnh thơi, và đọc về giáo dục một cách thoải mái, từ đó mới có thể có những sáng kiến để đổi mới.

5. Sự cứng nhắc của cộng đồng phát triển chuyên môn (PLC)

  Mục đích của các hoạt động nói

Mặc dù không phổ biến ở bậc đại học, nhưng cộng đồng phát triển chuyên môn (PLC) dành cho giáo viên là một xu hướng  thịnh hành trong việc cải cách ở các trường phổ thông công lập ở Hoa Kỳ,

Vế mặt khái niệm, cộng đồng phát triển chuyên môn rõ ràng (xấu hổ thay) được tạo ra đáp ứng với khối lượng nặng nề của việc lập kế hoạch và phân hóa việc học tập ở cấp độ cao cho tất cả những bộ óc riêng biệt của học sinh. Cộng đồng này chỉ đơn giản yêu cầu giáo viên thống nhất các chuẩn mực, chia sẻ các chiến lược dạy học, và ngồi lại với nhau để phân tích các kết quả. Kiểu hợp tác về chuyên môn này là điều đương nhiên trong các nhiều ngành công nghiệp và cũng được áp dụng trong giáo dục. Vấn đề là nhiểu cộng đồng phát triển chuyên môn vô tình trộn lẫn các phong cách dạy học và cách thiết kế dạy học, bất kể đó là lớp học nào hoặc giáo viên nào, cho đến khi không còn có gì đáng gọi là phân hóa nữa.

Dạy học là một hoạt động nặng tính cá nhân nhằm tạo ra một bầu không khí thuận lợi cho việc học diễn ra. Đó không phải là kết quả kỳ bí của một công thức công nghiệp, mà là sự tương tác   được thiết kế cẩn thận giữa giáo viên, học viên và nội dung môn học. Ở nhiều trường cũng như nhiều địa phương, các cộng đồng phát triển chuyên môn giúp nhận thức được điều này. Nhưng ở những nơi mà các nhà giáo dục còn mơ hồ về các vai trò đang thay đổi, lại được giới thiệu những kỹ thuật khác nhau và các mẫu biểu lập kế hoạch, rồi vật vã làm quen với một quá trình từ 10 đến 15 bước trong nhiều tuần, thì bạn đã có ngay một công thức — nói một cách lạc quan nhất  — không khuyến khích sự đổi mới.  

4. Chương trình của các học khu (school districts)

Các chương trình của học khu có ý nghĩa ở cấp độ khu vực. Nếu bạn là người nhận lãnh trách nhiệm về một hệ thống trường học. và bạn tìm ra được một chương trình hay một nền tảng (platform) mà bạn tin rằng có thể hỗ trợ học sinh và giáo viên của các trường do bạn điều hành, thì hẳn bạn sẽ muốn áp dụng những điều mới mẻ đó ở khu vực mà bạn lãnh đạo.

Thử thách nằm ở chỗ áp dụng chương trình đó vào thực tế như thế nào. Các chương trình cần phải bao quát toàn diện  (nếu không chúng đã không đáng được gọi là chương trình). Dù mục tiêu là đọc hiểu, kiểm tra – đánh giá, kỹ năng nghề nghiệp hay những sáng kiến  khác, thì khi được tích hợp vào chương trình chúng sẽ có tác động rộng rãi. Danh sách người học, thời khoá biểu cho giáo viên,  việc sử dụng các nguồn lực của trường, việc phát triển chuyên môn theo yêu cầu, các kỳ vọng của học khu, kỹ thuật phần cứng và phần mềm, thiết kế biểu đồ chương trình học, trình tự giảng dạy và nhiều lĩnh vực khác đều chịu tác động bởi các chương trình vốn nhắm vào những mục tiêu tốt đẹp.

Ở cấp độ học khu, có thể dễ dàng nói rằng “Tốt. Tất cả mọi thứ đều đang tạo ra tác động, nghĩa công việc đang ổn!” Vấn đề là đã có quá nhiều việc các nhà giáo cần làm mà không đủ thời gian. Một giáo viên giỏi thường sẽ là người biết phải bỏ bớt  (chứ không phải đưa thêm vào) những điều cần làm, và biết cách che giấu việc mình đã bỏ bớt đối với những người có quyền giám sát họ. Thêm các chương trình vào những công việc thuộc trách nhiệm của giáo viên chỉ bảo đảm rằng mọi thứ sẽ bị bỏ dở nửa chừng, kể cả các chương trình  cùng loại có chi phí rất cao của năm trước.

Tệ hại hơn, các chương trình kiểu này từ bản chất thường ít khi ủng hộ việc đổi mới ở cấp độ lớp học.

3. Sổ liên lạc truyền thống

Đổ lỗi cho sổ liên lạc về việc thiếu đổi mới thì hơi quá, nhưng sổ liên lạc truyền thống như chúng ta biết  làm giảm bớt quá trình  phức tạp và lộn xộn của quá trình học hỏi và tiến đến sự thành thạo. Không tốt đẹp như  tên gọi, sổ liên lạc chỉ cung cấp các điểm số bằng chữ vốn thường gây hiểu lầm vì không cho phụ huynh đủ thông tin  để hỗ trợ, dẫn đến câu hỏi đại loại như “Chuyện gì đang xảy ra trong môn Toán thế này?” thay vì hỏi “Chính xác là con gặp khó khăn gì khi vẽ sơ đồ mặt phẳng toạ độ?”

Báo cáo dựa trên các tiêu chuẩn có thể là một  bước đi đúng hướng. Một bước nhảy vọt chăng? Việc học tập dựa trên cộng đồng, với sự gắn kết ngay từ đầu của gia đình, và trách nhiệm được chia sẻ giữa các bên liên quan bên ngoài phạm vi trường học, thì không cần phải có một  mảnh giấy sau mỗi 9 tuần  để thông báo về sự tiến bộ trong học tập.

Mối liên hệ của việc học tập dựa trên cộng đồng với đổi mới thật sự quan trọng:  Mối quan hệ căn bản giữ người học, gia đình và nội dung học tập được kết nối bởi  một vật mang tính biểu tượng là sổ liên lạc. Đổi mới việc học đòi hỏi rằng các hoạt động  và việc áp dụng ở địa phương cũng phải được đổi mới. Sẽ rất khó để thiết kế môi trường học tập cho thế kỷ 21 và rồi sau đó chỉ báo cáo điểm A/ B / C cho các môn toán/ khoa học /tiếng Anh. 

Tất cả đều bỏ qua điều quan trọng nhất, điều mà – nhân tiện đề cập ở đây luôn – việc áp dụng trò chơi trong học tập cũng có thể giúp giải quyết. 

2. Chương trình học được chú giải

  Hướng tới nhiều ngữ cảnh và tình huống hơn trong giảng dạy ngữ pháp

Trước áp lực ngày càng tăng và vô số các sáng kíến đôi khi có thể kéo các giáo viên mỗi người theo một hướng, một vài học khu tìm ra một cách mà theo họ là tốt nhất: mua một chương trình học có sẵn các chú giải. Điều này tạo ra hình ảnh tốt đẹp rằng tất cả các nhà giáo đều  đang đi cùng một hướng và việc theo dõi kết quả học tập ở giữa các lớp học trở nên  đơn giản hơn. Nhưng thật không may, một  chương trình học được biên soạn sẵn. không hoạt động theo cách này. Tệ hơn nữa nó dập tắt đổi mới và rốt cuộc làm giảm sút năng lực giáo viên.

 Chương trình học cần phải đáp ứng tốt với những thay đổi và linh hoạt. Những chương trình chỉ bao gồm các tài liệu thiếu sinh động và khô cứng có thể làm hỏng các nỗ lực giúp điều chỉnh trải nghiệm học tập. Các chương trình học có chú giải sẵn như chương trình Springboard của College Board (là tổ chức quản lý kỳ thi SAT) là một giả dược cho các trường và các học khu  muốn cung cấp các trải nghiệm học tập được cá nhân hóa ở trình độ cao và cấp tiến vốn là kết quả của những cách tân đặt nền tảng trên sự cân nhắc kỹ càng.

1. Giáo viên làm việc quá tải

Mặc dù một đầu óc bận rôn lo nghĩ là dấu hiệu của sự tham gia sâu,  nhưng nếu đầu óc lúc nào cũng nổ tung với các mục tiêu học tập, họp hành, thăm dò sự phát triển ngôn ngữ, IEP (chương trình giáo dục cá nhân), ECE (giáo dục mầm non) ESL (Tiếng Anh như ngôn ngữ thứ 2), ELL (phát triển kỹ năng đọc của trẻ) 504’s (Kế hoạch giúp trẻ khuyết tật), G/T (giáo dục tài năng), PDP (kế hoạch phát triển chuyên môn), RTI (đáp ứng với những can thiệp), vv…  thì rõ ràng là không phải. Đây không phải là vấn đề phải có ngày làm việc ngắn hơn, ít học sinh hơn hay kỳ nghỉ hè dài hơn mà là vấn đề lịch trình và bầu không khí trong môi trường học tập  ở nhà trường cần phải hỗ trợ các nhà giáo dục phát triển những đổi mới lâu dài và đưa vào thực hiện trong lớp học.

Những  chương trình cho sự thay đổi từ trên xuống ở cấp độ học khu hay tiểu bang có thể hỗ trợ các nhà giáo, nhưng sự đổi mới và thay đổi lâu dài phải xuất phát từ sự hợp tác giữa người học, nhà giáo dục và cộng đồng. Trong thời đại của trách nhiệm giải trình, giáo viên được giao nhiệm vụ “chứng minh” mọi thứ. Không có điều gì được đương nhiên tin tưởng, và nhìn trên bề mặt điều này cũng dễ hiểu: Tất cả mọi nghề đều có tiêu chuẩn trách nhiệm ở một mức độ nhất định. Nhưng số lượng các nhiệm vụ phải chịu trách nhiệm mà các giáo viên phổ thông phải thực hiện một cách tốt nhất  không những không bảo đảm được kết quả học tập mong đợi, mà trong trường hợp xấu nhất, còn dập tắt mọi cơ hội đổi mới ở cấp độ lớp học.

Dù bầu không khí học đường, cấu trúc của  cộng đồng phát triển chuyên môn/ nhóm dữ liệu, hay các yếu tố thiết kế giảng dạy có ra sao đi nữa, nếu giáo viên  bị chìm ngập trong các thủ tục giấy tờ, họp hành, các nhiệm vụ phải chịu trách nhiệm, sự đổi mới thật sự và việc triển khai nhất quán tiếp theo sau sẽ luôn là một thử thách.

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *